Hát trống quân

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: st
Người gửi: Đỗ Thanh Dương (trang riêng)
Ngày gửi: 11h:04' 14-11-2009
Dung lượng: 124.5 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn: st
Người gửi: Đỗ Thanh Dương (trang riêng)
Ngày gửi: 11h:04' 14-11-2009
Dung lượng: 124.5 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
HÁT TRỐNG QUÂN Hát trống quân là một lối hát giao duyên ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Thường được tổ chức vào ban đêm, dưới trăng mùa thu, trong lúc có hội hè hoặc khi dân làng rảnh rỗi để phô diễn tài nghệ đối đáp và trao đổi tâm tình trai gái. Gọi là hát trống quân vì lối hát ấy phải cần đến một nhạc cụ gồm có một cái thùng trống và một sợi dây căng ngang lên trên, để khi dứt câu hát có tiếng trống đệm vào “Thình, thùng thình”. Hát trống quân xưa phổ biến rộng rãi khắp vùng. Người hát trống quân nổi tiếng là cụ Vũ Đình Xuyến ở Hiệp Cường - Kim Động. Hội điểm hát trống quân lâu bền nhất là các làng thuộc huyện Ân Thi, Khoái Châu, Văn Giang. Trai làng Xuân Cầu với gái làng Khúc Lộng (Văn Giang); trai làng Tào xã Thúc Kháng (Hải Dương) với gái làng Đào Quạt xã Bãi Sậy huyện Ân Thi; hát trống quân xã Dạ Trạch (Khoái Châu). Hàng năm, cứ vào dịp mùa thu, Tào Khê và Đào Xá lại mở hội hát trống quân từ chập tối tới quá nửa đêm và kéo dài hết tuần trăng. Ngày hội, dân hai bên bờ sông nườm nượp kéo về đình Đào Quạt, về đê Tào Khê để hát, “xui hát”, nghe hát. Nơi đây ngày xưa là quê của Bà chúa hát, là quê của cố thi sĩ Phạm Huy Thông. Diễn tiến của “canh” hát trống quân gồm có: hát gọi, hát đáp, hát chào, hát mời trầu, hát giao hẹn đến hát ướm, hát thách và cuối cùng là hát hoa, hát đối đáp… Dưới đây là đoạn hát đối đáp của hội trống quân Đào - Tào. Nam (Hỏi) Những mong hiểu rộng biết dài Hỏi thăm bên đó có ai chung tình? Nữ (Đáp) Xinh xinh cái nấm trúc xinh Đệ nhất chung tình có Chử Đồng Tử - Tiên Dung. Nữ (Hỏi) Hai bờ chung một dòng sông Hào kiệt anh hùng bên ấy là ai? Nam (Đáp) Lời vàng như nắng ban mai Đệ nhất ai tài là Tiết chế Hưng Đạo Vương. Cứ như vậy, hỏi và đáp về danh thắng, danh nhân của mỗi quê. Canh hát kết thúc bằng những câu hai bên hò hẹn tối mai lại hát tiếp. Giống như dân ca quan họ, có thời trống quân được ưa thích như hát chèo. Hát trống quân cần được bảo tồn trong cuộc sống hôm nay.
Trống quân nơi gốc đa, sân đình - Nguyễn Hữu Khánh - Trống quân là điệu hát dân gian quen thuộc, thường thấy ở các làng quê người Việt; được tổ chức hát vui trong những ngày lễ hội đình đến làng. Dưới gốc đa, trên bãi cỏ, thường tập trung từng tốp dăm bảy người, mỗi tốp cách nhau khoảng 15 - 20m, có khi xa hơn. Mỗi tốp hát phải có một nhạc cụ không thể thiếu là chiếc trống cơm (loại trống nhỏ như quảt bưởi) và được gọi là trống quân để phân biệt với trống cái lớn hơn. Vì thế, nên gọi là hát trống quân. Khi hát, họ dùng những câu thơ lục bát để hát. Nội dung có thể là chào hỏi nhau, kể chuyện tâm tình, đối đáp giao lưu với nhau... Cách hát là chia mỗi câu thành nhiều nhịp, mỗi nhịp có 2 từ, xen vào mỗi nhịp có cách từ đệm như: á a, í i, ứ ư, này, mà... Riêng nhịp cuối của câu 8 thì được hát như láy: đưa từ 8 lên trước, rồi hát luôn hai từ bảy và tám. VD: Trống quân anh lập lên dây Chẳng đá nào vấp, chẳng dây nào quàng Được ngắt nhịp thành: Trống quân/ ai lập/ lên đây Chẳng đá/ nào vấp/ chẳng dây nào quàng Và khi hát là: Trống quân (này) anh lập (mà) lên đây (í i) Chẳng (mà) nào vấp (í i) chẳng dây (ứ ư) quàng nào quàng (í ì) Sau mỗi câu hát (6 - 8 chữ) như thế lại có tiếng trống điểm nhịp "cắc" và trống đệm "thình, thùng thình" nghe rất rộn rã, vui tai. Về sau, để lời hát được vang xa, người ta lấy các ống bơ, xuyên thủng đáy, dùng sợi chỉ tơ se thật xoắn, xuyên qua đáy ống bơ, rồi kéo căng dây chỉ sang phía đối phương, cũng nối vào một chiếc ống bơ như thế.Khi hát, họ hát vào ống bơ, âm thanh được khuếch đại lên, vang xa, rất ấm và vui tai. Cũng có khi người ta dùng những thùng sắt tây lớn, buộc chặt chiếc trống quân lên đó, để khi đánh trống điểm nhịp hoặc đệm
Trống quân nơi gốc đa, sân đình - Nguyễn Hữu Khánh - Trống quân là điệu hát dân gian quen thuộc, thường thấy ở các làng quê người Việt; được tổ chức hát vui trong những ngày lễ hội đình đến làng. Dưới gốc đa, trên bãi cỏ, thường tập trung từng tốp dăm bảy người, mỗi tốp cách nhau khoảng 15 - 20m, có khi xa hơn. Mỗi tốp hát phải có một nhạc cụ không thể thiếu là chiếc trống cơm (loại trống nhỏ như quảt bưởi) và được gọi là trống quân để phân biệt với trống cái lớn hơn. Vì thế, nên gọi là hát trống quân. Khi hát, họ dùng những câu thơ lục bát để hát. Nội dung có thể là chào hỏi nhau, kể chuyện tâm tình, đối đáp giao lưu với nhau... Cách hát là chia mỗi câu thành nhiều nhịp, mỗi nhịp có 2 từ, xen vào mỗi nhịp có cách từ đệm như: á a, í i, ứ ư, này, mà... Riêng nhịp cuối của câu 8 thì được hát như láy: đưa từ 8 lên trước, rồi hát luôn hai từ bảy và tám. VD: Trống quân anh lập lên dây Chẳng đá nào vấp, chẳng dây nào quàng Được ngắt nhịp thành: Trống quân/ ai lập/ lên đây Chẳng đá/ nào vấp/ chẳng dây nào quàng Và khi hát là: Trống quân (này) anh lập (mà) lên đây (í i) Chẳng (mà) nào vấp (í i) chẳng dây (ứ ư) quàng nào quàng (í ì) Sau mỗi câu hát (6 - 8 chữ) như thế lại có tiếng trống điểm nhịp "cắc" và trống đệm "thình, thùng thình" nghe rất rộn rã, vui tai. Về sau, để lời hát được vang xa, người ta lấy các ống bơ, xuyên thủng đáy, dùng sợi chỉ tơ se thật xoắn, xuyên qua đáy ống bơ, rồi kéo căng dây chỉ sang phía đối phương, cũng nối vào một chiếc ống bơ như thế.Khi hát, họ hát vào ống bơ, âm thanh được khuếch đại lên, vang xa, rất ấm và vui tai. Cũng có khi người ta dùng những thùng sắt tây lớn, buộc chặt chiếc trống quân lên đó, để khi đánh trống điểm nhịp hoặc đệm
 







Ý kiến trao đổi