tiện ích online

TIỆN ÍCH ONLINE

Tin tức cập nhật

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • thống kê truy cập

    free counters

    HỌP MẶT VIOLET OPEN HÈ 2017

    Những điểm mới của luật viên chức

    Nhấn vào đây để tải về
    Hiển thị toàn màn hình
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn: Bộ GD & ĐT
    Người gửi: Lê Thị Phương Mai (trang riêng)
    Ngày gửi: 07h:56' 07-11-2012
    Dung lượng: 42.5 KB
    Số lượt tải: 10
    Số lượt thích: 0 người
    Những điểm mới của Luật Viên chức năm 2012
    Luật Viên chức được Quốc hội nước CHXHCNVN thông qua tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XII. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012. Luật gồm có 6 chương, 62 điều với nhiều nội dung mới quan trọng trong việc sử dụng và quản lý đội ngũ viên chức, bao gồm:
    1. Giải thích rõ khái niệm viên chức và hoạt động nghề nghiệp của viên chức: Trước đây Pháp lệnh Cán bộ, công chức chưa giải thích rõ các khái niệm như "cán bộ", "công chức", " viên chức`. Đến Luật Cán bộ công chức năm 2008 đã phân định được thé nào là cán bộ và  công chức. Riêng khái niệm "viên chức" phải đến Luật Viên chức năm 2010 mới được định nghĩa một cách rõ ràng, làm cơ sở để phân biệt  với cán bộ và công chức. Điều 2 của luật khẳng định "Viên chức" là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm; làm việc tại các đợn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc; hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật"
    Có thể thấy sự khác biệt cơ bản của viên chức so với cán bộ, công chức chính là chế độ tuyển dụng gắn với vị trí việc làm thông qua chế độ hợp đồng lao động và lương được hưởng từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập nơi viên chức làm việc. Công chức được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, trong biên chế Nhà nước    
    Nếu như  cán bộ, công chức là cá nhân làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị -  xã hội, tức là các cơ quan mang tính chất "công", nhân danh quyền lực nhà nước thực hiện công việc của mình thì viên chức lại hoạt động thuần tuý  mang tính chuyên môn, nghiệp vụ. Điều 4 của luật nêu rõ: "Hoạt động nghề nghiệp của viên chức là việc thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ có yêu cầu về trình độ, năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong đơn vị sư nghiệp công lập theo quy định của luật này và các quy định khác cuả pháp luật có liên quan" 
     2. Luật quy định thống nhất cách hiểu về đơn vị sự nghiệp công lập: Từ trước đến nay, cụm từ " đơn vị sự nghiệp công lập" được sử dụng trong nhiều văn bản luật khác nhau, song khái niệm về đơn vị sư nghiệp công lập lại chưa có quy định cụ thể. Với khái niệm về viên chức, luật đưa ra một điểm cơ bản cuả viên chức là làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Vì vậy cần thiết phải có một cách hiểu thống nhất về cụm từ này. Theo đó "Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước; tổ chức chính trị; tổ chức chính trị -  xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý Nhà nước". Đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của Luật Viên chức được chia thành hai loại, là đơn vị sự nghiệp công được giao quyền tự chủ và đơn vị sự nghiệp công chưa được giao quyền tự chủ. Việc quy định và thống nhất cách hiểu về đơn vị sự nghiệp công lập, cũng như định hướng cho các đơn vị này nhằm phát triển và phục vụ tốt nhất nhu cầu trong lĩnh vực dịch vụ công.
     3. Quy định về "chức danh nghề nghiệp" thay thế cho quy định về " ngạch" trong quản lý viên chức:  Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức, ngạch là tên gọi thể hiện thứ bậc về năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức. Ngạch công chức bao gồm chuyên viên cao cấp và tương đương, chuyên viên chính và tương đương,  chuyên viên và tương đương, cán sự  và tương đương, nhân viên.
    Theo quy định của Luật Viên chức, vị trí việc làm: Là công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng, là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập. Còn chức danh nghề nghiệp là tên gọi thể hiện trình độ và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ trong từng lĩnh vực ngành nghề hoạt động của viên chức. Để bảo đảm mọi chế độ, chính sách đối với viên chức phải căn cứ vào vị trí việc làm gắn với chức danh nghề nghiệp của viên chức.
    Trên thực tế, viên chức làm việc trong các lĩnh vực cung cấp các dịch vụ công thiết yếu cho cộng đồng như y tế, văn hoá, giáo dục, khoa học, thể dục, thể thao, giao thông công cộng... đều có các chức danh nghề nghiệp như bác sĩ, giáo
     
    Gửi ý kiến

    HỖ TRỢ QUẢN TRỊ WEBSITE

    Thay tên website / Chọn thư mục / Mở ra
    Giao diện Module Thư mục Thành viên Tài nguyên Xóa Code
    http://